BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG (FMD)



09/04/2018

1. Sơ lược về bệnh:

Là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan mạnh, gây ra bởi virus đối với các loài động vật móng chẵn (trâu, bò, dê, cừu, lạc đà).
Con vật sốt nhẹ, hình thành những mụn nước ở miệng, lưỡi, kẽ móng và vành móng, có khi xuất hiện ở cả núm vú.

Virus bền ở ngoài môi trường.
Tỷ lệ chết do bệnh thấp, trừ một số trường hợp gia súc non virus gây viêm cơ tim tỷ lệ chết đến 50%.

Trong vùng nhiệt đới: sự lây lan của bệnh là do tiếp xúc với chất tiết của heo bệnh, các sản phẩm từ thịt và sữa và các phương tiện khác bao gồm phương tiện vận chuyển và các thiết bị chăn nuôi…được đem vào khu vực chăn nuôi không có miễn dịch hoặc tiêm vaccine trễ.
Serotype O là nguyên nhân chủ yếu của bệnh lây lan từ heo sang heo nhưng đôi khi Serotype A gây bệnh trên bò lây cho bò và sau đó lây cho heo.

2. Nguyên nhân gây bệnh:

Virus gây bệnh là Aphthovirus, thuộc họ Piconaviridae với 7 type là O, A, C, ASIA, SAT1, SAT2, SAT3 và ít nhất có 80 subtype.
Kích thước 20 -30 nm, không có vỏ bọc.

Lây lan qua đường hô hấp hay tiêu hóa và có thể qua các vết thương trên da.
Từ chỗ xâm nhập, virus tăng sinh ở vùng hầu họng và từ đó nhiễm vào máu.

3. Chẩn đoán:

Dựa vào tiền sử của bệnh trong trại, các triệu chứng lâm sàng, kết quả phân lập virus và huyết thanh học.
Những mụn nước xuất hiện đầu tiên ở xoang miệng ngay trong vòng 24h sau khi nhiễm Virus, sau đó ở các vành móng, miệng và trên đầu núm vú.
Bệnh tích thể hiện ở chân, miệng và mũi, lưỡi.
Viêm cơ tim có thể nhìn thấy trên heo con sau khi chết.
Virus từ mụn nước được xác định bằng phương pháp nuôi cấy mô, PCR, ELISA, và cấy truyền cho động vật thí nghiệm.
Có thể sử dụng phương pháp ELISA để xác định kháng thể do vaccine hay do nhiễm virus tự nhiên.
4. Triệu chứng lâm sàn:

Thời gian nung bệnh từ 2 – 7 ngày.
Tình trạng bệnh phụ thuộc vào chủng, độc lực của virus và khả năng đề kháng của cơ thể.

Heo bệnh sốt dưới 410C, các triệu chứng mụn nước như ở phần chẩn đoán.
Heo lớn có thể chết khoảng 5% và heo con khoảng 50%.
Virus type O còn gây viêm cơ tim làm heo chết tỷ lệ cao hơn.

5. Phòng bệnh:

Bệnh do virus nên không có thuốc chữa đặc hiệu, mục đích phòng bệnh là chính.
Virus bị vô hoạt với pH dưới 6.0 và trên 8.0 và bị chết nhanh chóng dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời.
Sử dụng vaccine Aftopor chích phòng bệnh cho trại không bị FMD:
Đực giống: mỗi năm 3 lần.
Heo con: lần 1 lúc 7 tuần, lần 2 lúc 12 tuần.
Hậu bị: 1 lần trước khi phối.
Ở Việt Nam xác định chủ yếu là type O (O1) nên chỉ cần tiêm vaccine type O phòng bệnh.
Nếu trại ở trong vùng dịch (trường hợp không tiêm phòng vaccine):
Tái chủng tổng đàn, chích heo bệnh, heo thịt chuẩn bị bán trong khoảng 1 tháng, heo con nhỏ hơn 3 tuần. Tái chủng lần 2 sau 1 tháng.
Trên heo con tiêm 2 mũi lúc 4 và 8 tuần tuổi.
Ba tháng sau khi đã tiêm vaccine lần 2 có thể trở lại chương trình tiêm phòng như lúc bình thường.
Kiểm soát khách ra vào, xe cộ, súc vật khác thả vào khu vực chăn nuôi.
Phun thuốc sát trùng phòng bệnh khi những địa phương kế bên bị bệnh.
Các thuốc sát trùng phun 2 lần trong ngày: Sodium hydroxide 2%, Biocid-30, Virkon 1%.
Theo luật thú y quốc tế bệnh FMD sẽ bị tiêu hủy, không chữa trị.



Bài viết liên quan

VIDEO HOẠT ĐỘNG

GIẢI THƯƠNG - CHỨNG NHẬN

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

icon

02763730730

Thức Ăn Thủy Sản

Skype icon

Hotline: 0911417667

Email: goldbio@goldbio.vn

Thức Ăn Gia Súc- Gia Cầm

Skype icon

Hotline: 0911517667

Email: goldbio@goldbio.vn