TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI CẢ NƯỚC 01/2018



09/04/2018

Chăn nuôi gia súc: Với sự hỗ trợ từ nhiều dự án nên tình hình chăn nuôi bò trên cả nước đạt hiệu quả kinh tế khá cao do đó đã khuyến khích người dân duy trì và phát triển đàn bò. Ước tính đàn bò cả nước tháng Một năm 2018 tăng khoảng 2,5% so với cùng kỳ năm 2017, đàn trâu cả nước giảm khoảng 0,1%.

Chăn nuôi lợn: Trong tháng cận Tết, giá thịt lợn hơi có xu hướng tăng nhẹ nhưng chưa có chuyển biến tích cực, người chăn nuôi trong tình trạng hoà vốn, chi phí chăn nuôi không giảm khiến người chăn nuôi lợn e ngại tái đàn. Nhiều hộ nhỏ lẻ vẫn treo chuồng, chờ thời cơ thích hợp, trong khi các gia trại, trang trại, doanh nghiệp vẫn tiếp tục nuôi nhưng đều có xu hướng phát triển cầm chừng, không tăng quy mô tổng đàn. Ước tính đàn lợn của cả nước tháng Một năm 2018 giảm khoảng 5,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Chăn nuôi gia cầm: Thị trường tiêu thụ ổn định, dịch bệnh được kiểm soát hiệu quả nên quy mô đàn gia cầm tiếp tục phát triển, mở rộng với quy mô lớn theo hình thức gia trại, trang trại. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tháng 01 năm 2018 tăng khoảng 6,8% so với cùng kỳ năm 2017.

Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 29/01/2018, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:

 Dịch Cúm gia cầm (CGC)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.

Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh tại các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Lở mồm long móng.

Dịch Tai xanh trên lợn

Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.

Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.

 

Nhận định tình hình dịch

Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.

Lở mồm long móng: Nguy cơ phát sinh các ổ dịch trên đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc đàn gia súc khỏe mạnh được vận chuyển đến vùng có ổ dịch cũ là rất cao. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.

Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.

Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (văn bản số 2904/TY-DT ngày 28/12/2017) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC

Giá lợn hơi trên địa bàn cả nước biến động tăng trong tháng qua. Tại miền Bắc, giá lợn hơi tăng 1.000 – 3.000 đ/kg lên 32.000 – 36.000 đ/kg. Tại Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Thái Bình, giá lợn hơi dao động quanh mức 34.000 – 35.000 đ/kg. Tại những địa phương giáp biên giới Trung Quốc như Lào Cai, lợn hơi đạt mức giá cao 35.000 – 36.000 đ/kg. Tại Hà Nam, giá lợn hơi dao động 31.000 – 33.000 đ/kg. Tại khu vực miền Trung và Tây Nguyên, giá lợn hơi dao động từ 32.000 – 35.000 đ/kg, tăng 2.000 – 5.000 đ/kg so với tháng trước. Tại Đắc Lắk, giá lợn hơi khoảng 32.000 đ/kg, tại Bình Định 35.000 đ/kg. Các tỉnh như Khánh Hoà, Lâm Đồng hay Ninh Thuận, giá lợn hơi dao động quanh mức 32.000 – 34.000 đ/kg. Tại các địa phương trọng điểm ở miền Nam như Đồng Nai, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh, giá lợn hơi trung bình trong khoảng 30.000 – 33.000 đ/kg, tăng 4.000 đ/kg so với tháng trước. Căn cứ năng lực cung cầu hiện nay, nguồn cung thịt lợn cho thị trường vẫn sẽ được đảm bảo phục vụ dịp Tết Nguyên đán 2018.

Với nhu cầu tăng phục vụ cho dịp Tết Nguyên đán, giá thu mua gà lông trắng tại khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL biến động tăng với mức tăng 1.000 đ/kg lên 28.000 – 29.000 đ/kg. Giá gà thịt lông màu tại 2 khu vực này cũng tăng 3.000 – 4.000 đ/kg lên 43.000 – 45.000 đ/kg. Tuy nhiên, giá thu mua trứng gà vẫn ổn định ở mức 1.750 – 1.850 đ/quả; giá trứng vịt 2.100 – 2.300 đ/quả so với tháng trước

Biểu đồ. Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam

Xem chi tiết tại http://channuoivietnam.com/bieu-2/

THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU

Thức ăn gia súc và nguyên liệu:

Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 1/2018 ước đạt 370 triệu USD, tăng 43,1% so với cùng kỳ năm 2017. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong năm 2017 là Achentina (chiếm 46,3% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (8,3%), Trung Quốc (5,1%) và Ấn Độ (chiếm 4,5% thị phần). Trong đó, thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Canada (tăng 5,7 lần) tiếp đến là các thị trường Ấn Độ và Indonesia với tỷ lệ tăng lần lượt là 76,4% và 12,9%. Ngược lại, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu của thị trường Trung Quốc và Hoa Kỳ giảm mạnh, mức giảm lần lượt là 37,9% và 36,9%.

Lúa mì:

Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 1/2018 đạt 834 nghìn tấn với giá trị đạt 188 triệu USD, tăng 3,7 lần về khối lượng và tăng 3,9 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Ba thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong năm 2017 là Úc, Canada và Nga với thị phần lần lượt là 42,7%, 19,9% và 14,2%. Trong năm 2017 ba thị trường nhập khẩu lúa mì này đều có sự gia tăng mạnh cả về khối lượng và giá trị. Trong đó, thị trường Canada có khối lượng lúa mì tăng hơn 15 lần và giá trị tăng gần 12 lần, thị trường Nga có khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng 5,7 lần và giá trị tăng 5,9 lần và thị trường Úc có khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng 11,3% và giá trị tăng 10,4%. Thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Hoa Kỳ (giảm 82%).

Đậu tương:

Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 1/2018 đạt 33 nghìn tấn với giá trị 15 triệu USD, giảm 65,5% về khối lượng và giảm 65,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Ngô:

Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 1/2018 đạt 950 nghìn tấn với giá trị đạt 177 triệu USD, tăng 60,9% về khối lượng và tăng 52,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong năm 2017, chiếm thị phần lần lượt là 50,8% và 30,9% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Trong năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô tăng mạnh nhất tại thị trường Thái Lan gấp 12,3 lần so với cùng kỳ năm 2017 nhưng giá trị lại chỉ gấp 2,6 lần. Ngược lại, thị trường Campuchia lại có khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này đều giảm hơn 30% so với cùng kỳ năm 2017.



Bài viết liên quan

VIDEO HOẠT ĐỘNG

GIẢI THƯƠNG - CHỨNG NHẬN

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

icon

02763730730

Thức Ăn Thủy Sản

Skype icon

Hotline: 0911417667

Email: goldbio@goldbio.vn

Thức Ăn Gia Súc- Gia Cầm

Skype icon

Hotline: 0911517667

Email: goldbio@goldbio.vn